Hotline
0938 696 012

Ông Trằn Nhật Nam: 2018 là năm bùng nổ đầu cơ trái phiếu đơn vị

21:00

Giao dịch thứ cấp đối với item trái khoán đang nhộn nhịp hơn qua kênh phân chia tại các nhà băng, tổ chức kinh doanh chứng khoán.

Để có một tầm nhìn sâu hơn về hoạt động mua bán trái phiếu đơn vị (TPDN), phóng viên NDH có cuộc phỏng vấn với ông Trần Nhật Nam, chuyên gia tài chính nhà băng, người đã có chuyên nghiệp về sản phẩm đầu cơ đang được thân mật này.

Gắn bó khá lâu với hoạt động mua bán trái khoán đơn vị của vietnam, ông cảm nhận như thế nào về những đổi mới của hoạt động mua bán này những năm qua?

Ông È cổ Nhật Nam: Tại Việt Nam, một số đơn vị sản xuất trái phiếu từ rất sớm nhưng thực chất lại không khác việc kiếm được cấp nguồn hỗ trợ và chưa tạo nên một thị trường thực sự. Thay vì cho mượn doanh nghiệp, nhà băng chuyển sang đầu tư trái phiếu.

Các khoản đầu tư này có thể mua bán lại giữa các đơn vị nhưng đầy đủ các trường hợp đều nằm nguyên ở bảng cân đối kế toán của nhà băng.

Phải đến năm 2013 – 2014, thị trường TPDN thật sự mới nhen đội ngũ khi TCBS khởi đầu mua sắm và bán lẻ trên thị trường các trái phiếu của Vingroup, Masan.

Hai năm vừa qua, các ngân hàng, tổ chức kinh doanh chứng khoán khác cũng chú ý tới thị trường này. Tôi nghĩ rằng năm 2018 là một bước bỗng phá và trở thành năm bùng nổ của trào lưu đầu cơ trái khoán công ty. Thay vì chỉ tập trung ở hai doanh nghiệp là TCBS – Techcombank, VPBS – VPBank, vài đơn vị khác cũng đang tham gia hăng hái như Vietcombank, ACB, SCB, MBBank....như trường phù hợp trái phiếu TNR (bán tại Maritimebank), Sunshine (SCB), Sovico (HDBank).

Một hoạt động mua bán thứ cấp phát triển sẽ có vai trò như thế nào đối với sự phát triển bình thường của hoạt động mua bán TPDN, thưa ông?

Nếu các thương lượng thứ cấp không sản xuất thì chúng ta sẽ không thể có một thị trường mạnh. Vấn đề này cũng tương tự như khi hoạt động mua bán cũ rích phiếu chỉ có các đàm phán trên sàn OTC với vài chục nhà đầu tư nắm giữ cổ hủ phiếu chưa niêm yết. Hình như đó, không có hoạt động mua bán thứ cấp, việc sản xuất trái phiếu cũng sẽ không khác cấp nguồn đầu tư nhà băng.

Tôi nghĩ rằng cần phát hành cơ chế để trái khoán có thể buôn bán, bán từng cái cho đối tượng mua hàng là doanh nghiệp, tư nhân một phương pháp nhiều hơn, từ đó mới có thể phát triển thị trường thứ cấp thật sự nhộn nhịp. Khi có một lượng chủ đầu tư đủ lớn cho TPDN, tính giữ vững, đòi hỏi minh bạch, yêu cầu thanh khoản sẽ tăng cao và phát hành thị trường trái khoán thực thụ.

Như một số công ty, sau khi tư vấn tạo ra và phân phối lẻ trái khoán, họ thường đề nghị doanh nghiệp tạo ra đưa trái phiếu lên niêm yết. Việc sáng tỏ về tin tức và giá cũng giúp các đàm phán thuận tiện hơn.

Ông Trần Nhật Nam: 2018 là năm bùng nổ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp - Ảnh 1.

Ông Nai lưng Nhật Nam - chuyên gia vốn đầu tư ngân hàng

Vài năm quay về đây, cách thức đầu cơ vào TPDN được các cá nhân chọn lựa càng ngày càng nhiều một phần nhờ lãi suất cao hơn lợi nhuận tiền gửi cùng kỳ hạn. Lợi nhuận cao thường đi kèm với việc phải chấp nhận rủi ro cao. Vậy so với gửi dè xẻn, đâu là nhân tố rủi ro một chủ đầu tư có thể gặp gỡ phải khi mua TPDN?

Thực ra, đầu cơ mua TPDN hay gửi tiền vào một nhà băng đều là hoạt động cho vay mang về nguồn thu nhập khăng khăng (fixed income). Tất nhiên, gửi tiền (cho nhà băng mượn) định hình và an ninh hơn bởi dòng tiền tại các đơn vị tài chính được phân tán, luân chuyển cởi mở. Các ngân hàng còn phải giữ vững nghiêm ngặt dòng tiền, vâng lệnh những qui định chặt chẽ của NHNN. Việc mua TPDN (cho tổ chức vay trực tiếp) không may cao hơn khi nhà đầu tư phải phụ thuộc tham gia tình hình buôn bán của riêng tổ chức đó. Buôn bán có thể thành bại, thậm chí xa hơn còn là nguy cơ phá sản.

Việc so sánh chừng mực không may lẽ ra cần dựa trên hệ số tín nhiệm (credit rating) của các doanh nghiệp. Hiện vn vẫn chưa có công ty xếp hạng tín nhiệm. Khi quyết định tậu trái phiếu tôi nghĩ là các chủ đầu tư nên nỗ lực tìm hiểu chừng rủi ro của doanh nghiệp, so sánh với hạn độ rủi ro của nhà băng đang gửi tiền.

Với trường phù hợp các tổ chức có nền tảng vững, đầu lĩnh vực hay có lĩnh vực kinh doanh đa dạng, tài năng phá sản trong ngắn hạn hầu hết bằng không thì việc mua trái khoán không không may hơn, thậm chí còn an toàn hơn các gửi tiền vào các ngân hàng yếu kém.

Hơn nữa, giả dụ các nhà đầu tư chuẩn bị nắm giữ cổ lỗ phiếu của một công ty thì việc mua trái phiếu của chính tổ chức này bản chất là còn ít không may hơn so với cổ lỗ phiếu vì công ty cam đoan một mức lãi suất nhất mực và trái chủ (chủ đầu tư mua trái phiếu) luôn được dành đầu tiên chi trả cao hơn so với cổ lỗ đông.

Tuy nhiên, chẳng phải công ty nào tạo ra trái phiếu chủ đầu tư cũng thuận tiện tiếp xúc tin tức. Cách đây không lâu, khách hàng khi tới ngân hàng ngoài được giải đáp gửi tiền dè xẻn được trình bày tậu TPDN nhưng lại không được nhân thức tình hình vốn đầu tư cụ thể. Trường thích hợp tương tự, nhà đầu tư nên phụ thuộc đâu để bình chọn không may? Vai trò của ngân hàng ở những vụ mua bán phát triển như vậy?

Ở hoạt động mua bán TPDN mà các nhà băng đang bán lẻ cho khách hàng cá nhân, đúng là người mua không được tiếp xúc được phương thức sử dụng vốn của công ty hay hiểu đầy đủ chừng uy tín của các đơn vị này.

Chủ đầu tư do đó có thể không cảm thấy an ninh. Với thắc mắc này, thực tế nhà băng có hai cách để giải quyết.

Thứ nhất, ngân hàng bảo đảm bằng việc tạo ra thanh khoản khi đối tượng mua hàng cần bán lại nhưng không chắc chắn bảo lãnh. Thay vì cắt nghĩa chi tiết về tình hình nguồn vốn tổ chức, phía nhà băng cho nhân thức khách hàng hoàn toàn có thể tới bán lại trái phiếu khi cần tiền và nhà băng sẵn sàng cố gắng tối đa để mua người mua lại. Cách thức mà các doanh nghiệp phân chia bán từng cái đang làm cho là tạo ra kênh giao dịch thuận tiện để trái phiếu đó có thanh khoản. Hay nói bí quyết khác, họ đang trở thành nhà kiến lập thị trường (market maker) cho các trái khoán này.

Đối với hình thức trên, khách hàng cần cân nhắc liệu trong thời điểm nắm giữ TPDN có tài năng phá sản không. Ví thử trong thời hạn 3, 6 tháng đối tượng mua hàng nắm giữ, trái khoán chạm chán vấn đề hay đơn vị vỡ nợ thì nhà băng không phải là bên chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ vẫn đứng ra quản lý của nả bảo đảm của trái phiếu nếu như trái khoán có của cải đảm bảo hay thây mặt cho trái chủ khiến cho việc với doanh nghiệp sản xuất để đảm bảo quyền lợi tốt nhất.

Còn ở cách thứ nhì, ngân hàng sẽ chuẩn y người dùng có thể bán lại trái khoán cho ngân hàng hoặc cam kết bảo lãnh luôn. Nhân tố này không khác việc cấp nguồn vốn vay cho tổ chức nhưng lại giúp nhận được dòng tiền về trong khoảng cư dân để nhà băng có thể làm cho việc khác. Người dùng im tâm hơn nhưng lãi suất không cao hơn đáng kể so với lãi tiền gửi.

Trong cả nhì cách này, các đơn vị đều phải mua trước trái phiếu về cất “kho” rồi sau đó mới bán từng cái dần. Ngân hàng sắm TPDN gần giống như cấp một khoản cho mượn, tăng nguồn hỗ trợ ngân hàng. Tất nhiên, khi bán ra, nếu không có bảo lãnh, số dư tín dụng sẽ giảm xuống vì rủi ro tín dụng được chuyển ủy quyền đối tượng mua hàng. Còn trong trường thích hợp có bảo lãnh, số dư trái khoán này sẽ vẫn bị tính tham gia vững mạnh tín dụng.

Về giấy má, thứ tự tạo ra, việc chào bán trái khoán hiếm hoi dễ chơi và tốc độ hơn cơ chế chào tung ra mọi người. Có ý kiến nghĩ rằng việc ngân hàng hay các công ty sắm lẻ tẻ rồi sau đó phân phối lại cho phổ thông chủ đầu tư thay vì chào bán công khai nhằm “lách” luật, ông nghĩ sao về điều này?

Theo pháp luật hiện hành, việc chào bán trái khoán ra quần chúng, tổ chức cần làm cho giấy tờ tạo ra, đăng ký và cần được sự ưng ý của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo Luật Chứng khoán. Còn hoạt động sản xuất hiếm hoi sẽ cần gửi giấy má công bố Bộ Vốn đầu tư.

Theo Nghị định 90 về tạo ra trái phiếu hiếm hoi, doanh nghiệp, tư nhân mua sơ cấp trái phiếu có thể bán lại cho các đối tượng khác mà không có giới hạn về số lượng người mua. Việc phân phối lại tuân thủ đúng luật pháp hiện hành nhưng ở một giác độ nào đó cũng có thể gọi là lách việc chào bán công khai. Đến nay, lỗ hổng này đã được pháp luật ngặt nghèo tại Nghị định 163.

Chi tiết, Nghị định này đòi hỏi các trái chủ hạn chế giễu giao dịch trong khuôn khổ dưới 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán nhiều năm kinh nghiệm, trong vòng 1 năm kể trong khoảng ngày chấm dứt đợt tạo ra trừ trường thích hợp theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế. Sau một năm, trái khoán có thể được giao dịch không hạn nhạo báng về số lượng chủ đầu tư.

Nghị định 163 là văn bạn dạng pháp luật mới nhất luật pháp về hoạt động sản xuất trái khoán thay thế Nghị định 90 về phát hành trái khoán cá biệt có hiệu lực suốt 8 năm qua. Theo ông, đâu là những điểm đổi mới đáng chú ý nhất? Các quy định mới sẽ ảnh hưởng lên hoạt động mua bán TPDN như thế nào?

Nghị định 163 nới điều kiện cho hoạt động phát triển như bỏ điều kiện doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải có lãi năm liền kề trước, thời điểm hoạt động tối thiểu 1 năm tính trong khoảng thời điểm nhận Giấy chứng nhận đăng ký đơn vị thay vì trong khoảng lúc chính thức hoạt động hay thông báo nguồn vốn chỉ cần là được kiểm toán.

Pháp luật mới về đàm phán trái khoán như đã nói ở trên cũng là một sự thay đối đáng chú ý.

Nhìn phổ biến, nghị định mới dồn vào một chỗ giúp hoạt động tạo ra sơ cấp đơn giản hơn, nhưng lại chặn đầu đầu thương lượng thứ cấp đối với trái phiếu OTC. Nhân tố này có thể đẩy thị trường quay về giai đoạn cũ khi phát hành trái khoán không khác gì cấp nguồn vốn vay vì chỉ có một vài lượng gầy chủ đầu tư chuyên nghiệp, thậm chí chỉ một nhà băng sắm trái phiếu này.

Ở một góc độ khác, pháp luật này sẽ buộc tổ chức muốn phát hành nhiều phải qua phương án chào bán công khai. Khi đó bên phát hành sẽ phải thực hiện thêm phổ thông giấy tờ để bảo kê nhà đầu tư quần chúng. Cá nhân tôi rất ủng hộ thúc đẩy tạo ra ra dân chúng theo hình thức này.

Trong khi, Nghị định 163 cũng buộc doanh nghiệp phát triển phải tăng tính công khai, minh bạch ở khâu công bố thông tin. Trong đó, Sở giao dịch chứng khoán sẽ xây đắp một chuỗi hệ thống cổng tin tức trái khoán. Tôi nghĩ là đây là một công tác cần thiết để thị thường hiểu hơn về trái khoán, cũng như tổ chức quản lý có sự kiểm soát tốt hơn. Ý tưởng này rất tốt, khả thi và hoàn toàn hợp lý nhưng để thi hành nhanh nhất có thể còn dựa vào vào năng lực khai triển.

Bước sang năm mới, ông hy vọng gì về hoạt động mua bán TPDN năm 2019?

Có một vài yếu tố sẽ ảnh hưởng khá rõ nét lên hoạt động mua bán trái khoán năm nay. Quy định giảm tỷ trọng vốn ngắn hạn cho mượn trung dài hạn về mức 40% trong khoảng 1/1/2019 sẽ khiến room tài trợ vốn dài hạn của các ngân hàng phải thu ốm lại. Thay vì đi mượn ngân hàng, tạo ra trái khoán sẽ là một kênh thay vậy mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn. Việc thị trường TPDN phát triển sẽ mang tới một cú hích mới cho thị trường chứng khoán vn vốn lúc trước chỉ là sân chơi cho các nhà đầu tư cổ hủ phiếu.

Trong khi, tôi nghĩ là các nhà băng cũng có thể tiếp diễn tậu đến nguồn vốn dài hạn trong khoảng trái phiếu để nâng cao điều kiện tài chính của đáp ứng chuẩn Basel II khi khả năng tăng vốn vấn đề lệ còn chạm chán rộng rãi hạn nhạo báng.

Xin cảm ơn ông về những san sẻ!

Theo Thanh Thủy

Người đi cùng


Tham khảo thêm: bat dong san

Bình luận

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN DỰ ÁN
Đăng ký
ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC
chung cu lux riverview chung cu opal boulevard chung cu lux star chung cu opal city