Hotline
0938 696 012

Ngược Tô Lịch lên 'long mạch' Tây Hồ: Tại sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được?

23:00
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 1.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 2.

Hồ Tây không chỉ là "lá phổi" vĩ đại cho toàn Thăng Long xưa và Thủ đô nay, không chỉ là một con hồ nhân tố hòa, luôn cân đối lượng nước, tránh ngập lụt cho cả thành phố, mà đó còn là vùng đất thiêng, nơi sản sinh tiềm thức của người Hà Nội xưa, hay nói rộng hơn đó cũng chính là tâm tức người Việt cổ. Về tầm nhìn tâm linh, cùng với sông Tô Lịch, Hồ Tây được coi như một địa danh tụ thủy.

Vậy tụ thủy là gì?

Cũng như sông Tô Lịch, Hồ Tây vừa là long mạch, vừa là nơi tụ thủy. Hồ hết những nơi có tụ thủy thì đều có năng lượng rất lớn trong khoảng dải ngân hà tuyền xuống, vì vậy ở đó thì sẽ có phần đông người tài - người ta gọi là tụ nhân. Đã có tụ thủy thì sẽ có tụ nhân. Hay nói một cách thức dễ nắm bắt, Hồ Tây là nơi địa linh nhân tài, là nơi sản sinh ra lượng lớn những trị giá vật thể và phi vật thể.

Các giá trị vật thể hay phi vật thể của Hồ Tây đan xen, quất quýt, gắn chặt với nhau như nhì mặt của một nhân tố. Nó được biểu thị qua các truyền thuyết chân thật, các ghi chép trong sử sách về địa danh này.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 3.

Những truyền thuyết gắn liền với Hồ Tây hay tên gọi của Hồ Tây phổ quát ti tỉ. Nhiều người biết đến nhất có nhẽ là sự tích Lạc Long Quân diệt hồ ly tinh ở ngay tại nơi này, được ghi trong Lĩnh Nam chính quái.

Theo đó, khi xưa ở phía tây đế đô có hòn núi đá lớn bên sông, dưới núi có hang động và cũng là nơi trú ngụ của một con cáo chín đuôi. Nó sống lâu đến nghìn năm ngoái hóa thành tinh, chuyên đi khiến cho điều ác, hãm hại dân lành ở khu vực xung quanh Hồ Tây. Sự cường bạo ôn của con hồ ly tinh này không bạn nào không nhân thức, nó làm ti tỉ người phải bỏ nhà cửa, xóm làng, bỏ cả ruộng đồng tránh đi nơi khác.

Khi biết tin, Lạc Long Quân tức tốc tìm đến để trừ hại cho dân. Cuộc chiến đầy cam go, quyết liệt diễn ra nhiều hôm mai, dù con cáo chín đuôi có tài phép thế nào cũng không địch lại Lạc Long Quân, bắt buộc quay trở lại sào huyệt của nó ở dưới núi đá. Tới sau cùng, Lạc Long Quân cũng hủy hoại được hồ ly, giải cứu cho dân lành bị bắt cóc trong hang sâu, cho họ miếng đất gần đó để làm cho ăn sinh sống, lập nên làng Hồ Khẩu. Còn nơi hồ ly tinh bị thịt sau này có tên hồ Xác Cáo - là Hồ Tây bây chừ.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 4.

Rất xa xưa đi về trước, Hồ Tây còn có tên gọi là hồ Xác Cáo. Nguồn: CiputraHanoi - Hotienphongthuy.

Một cái tên khác - Kim Ngưu (Trâu Quà) cũng có lai lịch không hề chung. Truyền thuyết kể rằng, đời nhà Lý, nước ta có Nguyễn Minh Không sang TQuốc chữa bệnh cho con vua Tống. Khi hoàng tử khỏi bệnh, vua Tống trả ơn bằng cách cho phép Minh Không vào kho báu lựa chọn món đồ theo ý thích và lấy bao lăm tùy thích nhưng Minh Không chỉ lấy đồng đen (vì đồng đen được coi là "mẹ" của quà) cho tham gia bao mang về dâng vua Lý. Vua sai đem chỗ đồng đen ấy đúc thành cái chuông.

Chuông đúc hoàn thành mang ra đánh thử. Tiếng chuông vang vọng sang tận TQuốc. Nghe tiếng chuông ngân, trâu vàng ở bên ấy lồng lên chạy về nơi phát ra tiếng âm thanh. Đến khu rừng phía bắc thành Thăng Long thì tiếng chuông lặng bặt. Trâu quà mất hướng đi đã lồng lên đi tìm và giẫm nát cả một khu rừng, còn đất thì lún xuống thành hồ. Những nơi trâu đi thành sông mà bây giờ còn lại di tích, đó là sông Kim Ngưu. Vua sai ném chuông xuống hồ để trâu khỏi lồng thì quả thật nó đã lặn theo. Trong khoảng đó, hồ có tên là Kim Ngưu và dân dã còn ca ngợi:

"Trâu quà ẩn mãi giữa hồ,
Nước dù cạn vẫn mịt mờ hành tung". 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 5.

Ảnh minh họa sự tích Kim Ngưu. Nguồn: Hannah Hoang.

Cũng theo truyền thuyết này, ví như bạn nào sinh đủ mười người con trai thì có thể đến hồ gọi trâu quà về. Một lần có người tới gọi được trâu vàng lên khỏi mặt nước và dắt vào bờ. Bỗng nhiên, thừng bị đứt, trâu quà chui ngay vào hang ở gần đó, tư thục đền thờ gọi là đền Kim Ngưu (gần phủ Tây Hồ bây chừ). Về sau mới biết, người gọi trâu thế ra chỉ có chín con trai ruột, người còn lại là đàn ông nuôi.

Theo sách Hồn sử Việt, khi vua Lý Công Uẩn dời Hoa Lư lập đế kinh Thăng Long, thấy hồ Kim Ngưu đẹp nên ông nhiều lần tổ chức du lãm. Và không ít lần trong những chuyến du trên hồ, sương mù đã bao phủ thuyền của vua phát hành cảnh tượng vô cùng huyền ảo cho nên hồ được đổi tên là Dâm Đàm. Nhưng theo Đại Việt sử ký toàn thư: "Năm 1573 vua Lê Thế Tông lên ngôi tên húy là Duy Đàm, kiêng húy cấm không được gọi hồ Dâm Đàm, mà đổi gọi là Tây Hồ. Cái tên Tây Hồ có từ đó".

Ngoài lý do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Hàng Châu cũng có Tây Hồ nổi tiếng trên đất China. Tây Hồ là hồ ở phía tây nhưng theo tiếng Hán đọc là Tây Hồ. Đến đời Tây Đô Vương Trịnh Tạc, năm 1657 vì kiêng chữ Tây nên các địa danh nào có chữ Tây đều bị đổi thành Đoài (Đoài nghĩa là phía Tây) vì vậy Tây Hồ được gọi là Đoài Hồ. Nhưng dân Thăng Long vẫn gọi là Tây Hồ.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 6.

Đến triều nhà Tây Sơn, ý kiến về húy kỵ có khác. Sách Đào Khê dã sử kể, sau khi tàn phá quân Thanh, hợp nhất Đại Việt, vua Quang Trung đã lưu lại Thăng Long một thời gian ở để chiêu hiền hậu đãi sỹ và định hình Bắc Hà.

Một hôm, vua ngự thuyền chơi Tây Hồ, theo hầu có một văn thần họ Đỗ vốn là tiến sĩ nhà Lê, vì muốn lấy lòng vua ông này đã tâu xin vua đổi tên hồ. Quang Trung nghe lời tâu rất không thể tinh được hỏi vì sao lại phải đổi thì văn thần này giải đáp tên hồ trùng với quê vua (Tây Sơn, phủ Qui Nhơn, tỉnh Bình Định).

Quang Trung nghe ngừng cười to nói: "Tây Hồ là danh thắng của Thăng Long, người Thăng Long bao đời vẫn thương mến Tây Hồ, bịn rịn Tây Hồ, lẽ nào nay vì trẫm mà phải đổi tên hồ thân thuộc? Vả chăng trẫm từ Tây Sơn tới với nhân sĩ, hiền lành tài Bắc Hà chẳng tốt lắm ru? Khách Tây Sơn, cảnh Tây Hồ đó là duyên tao ngộ, cùng nhau còn phổ thông gắn bó, hứa hò, cảnh chẳng phụ người, khiến sao người lại phụ cảnh? Nhà ngươi muốn trẫm làm cho một việc bất nghĩa với dân Bắc Hà sao?".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 7.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 8.

Có một vấn đề, dù là tên nào, gắn với truyền thuyết bình dân hay được ghi chép tại chính sử, thì điều đó cũng đề đạt được các công đoạn lịch sử của Hồ Tây gắn liền với giá trị Thăng Long. Nó đi ra từ trong chính tiềm thức của người Việt cổ lỗ. Vậy nắm bắt đúng thì tâm thức ở đây là gì?  

Thực tại, người ta chẳng thể xác minh chính xác được rằng truyền thuyết nào là thật, truyền thuyết nào dựa trên sự thực mà có phần biến tấu, hay truyền thuyết nào được dân dã hóa hoàn toàn. Bởi lẽ, trong truyền thuyết, người ta thường dùng những phương pháp nói quá, khoa trương hơn, phóng đại hơn hoặc thần thánh hóa các sự vật, hiện tượng.

Tuy vậy, tựu thông thường lại, những truyền thuyết này là item ý thức của người Hà Nội nói riêng và người Việt cũ kĩ nói bình thường. Bất kỳ khách hàng nào, dù ở thời nào cũng đều cần một chỗ dựa về mặt ý thức thì mới có thể sống được. chậm tiến độ chính là sự khai thành lập về mặt tiềm thức. Không có truyền thuyết, không có chỗ dựa ý thức, không có tâm thức, họ không sống nổi. Bởi trong chính những truyền thuyết đó, cái thiện luôn thành công cái độc ác, người tốt luôn tiến công bại được những thần thế hắc ám.

Nghĩa là ở đây, loài người cần dựa vào một giá trị lối suy nghĩ để sống sót, đó chính là tâm thức.Có thể nói, những truyền thuyết về Hồ Tây, trong khoảng tên gọi cho đến những câu chuyện bình dân đều có giá trị rất lớn về mặt tiềm thức, là sản phẩm về mặt tinh thần của người Việt cổ lỗ, là trị giá phi vật thể không thể cân đong đo đếm.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 9.

Ngược dòng quá khứ, không bạn nào nhân thức Hồ Tây xuất hiện trong khoảng bao giờ, chỉ biết đã rất xa xưa rồi, cam đoan có từ trước công nguyên. Rồi người ta cũng đặt ra giả định là nó là một khúc sông hồng ngày xưa, khi lũ lụt lớn quá nước đổ tham gia đấy, sau đó hiện ra một cái hồ, có thể coi là hồ thiên tạo.

Cũng có người nghĩ là Hồ Tây xưa là khúc uốn của sông Hồng khi sông đổi dòng chảy lấn về bờ bên kia đã để lại một hồ nước, giống như việc sông Hồng đổi dòng đã sản xuất hồ Lục Thủy. Thực tiễn thì sông Hồng đã phổ biến lần đổi dòng khiến cửa sông Cà Lồ (ở phố Trung Hà, thị xã Yên Lạc Vĩnh Phúc) bị cát bồi lấp dẫn đến Cà Lồ biến thành con sông chết. Nếu chấp thuận giả thuyết đó thì Hồ Tây có từ bao giờ vẫn là câu hỏi không dễ giải đáp.

Nguồn: Nguyenvannhi - Phamtienhong. 

Rồi cũng trong khoảng nơi đây, có những biên chép về việc Nhị Bà Trưng từng tấn công trận những năm đầu công nguyên hay Lý Nam Đế chống quân xâm lăng nhà Lương thì khi đó Hồ Tây cũng đã có rồi. Trong khoảng đó để có thể thấy, con hồ hình bán nguyệt cứ âm thầm sánh bước cùng Thủ đô cũng đã có lịch sử hàng ngàn năm tuổi.

Nếu như như nói Hồ Tây được sinh ra trong khoảng trước cả công nguyên, vậy lúc trước hình hài của nó như thế nào? Nó đứng đơn côi hay hòa bản thân tham gia mạng lưới sông nước của Thăng Long xưa? Nguồn nước của Hồ Tây tới từ đâu?

Để nắm bắt được ngọn nguồn, chúng ta lại một lần nữa phải ngược dòng lịch sử, truy vấn nguyên về quá trình đầu tiên của địa danh này. Kể trong khoảng thời xa xưa cho đến thế kỷ 17, Hồ Tây vẫn cung cấp nước bởi 3 nguồn chính. Một là sông Thiên Phù, ở phía Tây Bắc Thăng Long. Cửa sông bắt nguồn từ làng Phú Thượng, Nhật Tân, chảy qua Xuân La, Xuân Đỉnh rồi tới ngã ba chợ Bưởi. Nguồn thứ nhì nữa là nước do sông Tô Lịch cấp, ở hai cửa sông là Cửa hàng Gạo và Giang Khẩu. Hình như, một nguồn nước khác cũng có thể coi cung ứng nước cho Hồ Tây là nước mưa. Đây là nguồn rất lớn, bởi hàng năm đến mùa mưa thì nước mưa đổ xuống miền bắc phần đông mà Hồ Tây là hồ rộng nên nó tích được lượng lớn nước.

Hình như đó, vì đáy sông Hồng ở cửa sông Thiên Phù cao hơn đáy sông Hồng ở đoạn Hà Khẩu nên vào 04 tuần không mưa, nước sông Hồng chảy tham gia Thiên Phù, qua Tô Lịch tham gia Hồ Tây, tiếp diễn đưa nước ra cửa Hà Khẩu nhập với dòng sông Hồng. Nhưng trong tháng mưa bọn, do nước trong khoảng đầu nguồn dồn về liên tiếp nên nước sông Hồng dâng cao đã đẩy nước chảy vào Tô Lịch và tuy nhiên đổ một phần vào Hồ Tây. Cho nên trước đó ở sông Tô Lịch có hiện tượng nghịch thủy.

Đương nhiên, như đã nói ở trên, việc này chỉ kéo dài đến thế kỷ 17 bởi sau đó sông Thiên Phù bị cát bồi lắng ngoài cửa sông dẫn tới nhẩn nha mất tích và Hồ Tây mất đi một nguồn cấp nước không nhỏ bé. Thời gian đúng đắn sông Thiên Phù biến mất thì khó khăn mà nói ra tận tường, nhưng cam đoan nó rơi tham gia khoảng cuối thế kỷ 17. Đến lúc này, Hồ Tây chỉ còn hai nguồn cung chính đến trong khoảng sông Tô Lịch và lượng nước mưa hàng năm.

Giây lát thơ mộng của Hồ Tây mỗi khi hoàng hôn buông xuống. Nguồn: Meogia - Vietravel.

Vào mùa mưa, nước Hồ Tây dâng lên rất cao, do nước sông Tô Lịch đổ vào, nhưng đến mùa khô thì trái lại, Hồ Tây trở thành nơi cung ứng nước cho sông. Cho đến cuối thế kỷ 19, năm 1889, trong khi xây chợ Đồng Xuân, người Pháp mới lấp đoạn đầu của sông Tô đi để xây dựng, nay tương ứng với đoạn chợ Đồng Xuân, khu vực Hàng Chiếu, ăn ra Hàng Lược, thì người ta lấp đoạn đấy để khiến chợ. Sau đó mới làm cống bê tông ra tận Phan Đình Phùng, chỗ gần trường Chu Văn An hiện nay. Tính cho đến lúc này, Hồ Tây chỉ còn lại nguồn nuớc chính là lượng mưa hàng năm

Nhưng mặt khác, Hồ Tây cũng xuất hiện thêm một nguồn cung mới dù không đáng kể, đó là một phần nước thải của phía Bắc đô thị chảy ra. Tức là khi người ta cống hóa đoạn đầu sông Tô Lịch, thì song song cũng làm chuỗi hệ thống thoát nước ở phía Bắc chảy ra đoạn cống đấy và nó chạy theo đoạn sông Tô Lịch còn lại chảy về Hồ Khẩu rồi đổ vào Hồ Tây. Nhưng lượng nước sinh hoạt thải ra hồ về căn bản không nhiều và cần thiết là lúc đó, nó cũng không gây ô nhiễm cho hồ. Sau cùng, khi người Pháp phá thành tham gia năm 1897 thì họ cũng lấp đoạn sông Tô Lịch còn lại và đoạn ở làng Hồ Khẩu ngày nay. Tức là tính từ cuối thế kỷ 19, nguồn nước độc nhất vô nhị cung cấp cho Hồ Tây là nước mưa.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 12.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 13.

Rộng rãi năm quay về đây, mỗi khi vào mùa sen, thiếu phụ khắp nơi lại lên Hồ Tây, diện áo yếm, áo dài chụp ảnh với hoa sen. Không còn là trào lưu tạm bợ, yếu tố đó đã trở thành một hoạt động văn hóa đẹp, lãng mạn, thấm sâu trong đời sống tân tiến hiện giờ. Cũng không nhân thức nét văn hóa này khởi đầu từ bao giờ, nhưng trước đây một số chục năm thì không phải có. Câu chuyện về sen Hồ Tây ngày xưa khác.

Thanh nữ tự sướng bên sen. Nguồn: Phapluatplus.

Có  thể nói, khắp cả nước  đâu đâu cũng có sen, riêng Thủ đô đầu thế kỷ 20 còn  gần như đầm  sen bao la như: Vọng, khu vực cuối thị trấn È cổ Quốc Toản, Liên Trì (ao sen), Lĩnh Nam, Định Công... Nhưng nói tới sen thì ít nơi đâu hơn  được sen Tây Hồ. Do thổ nhưỡng, khí hậu, đặc biệt là nguồn nước hồ Tây đã tạo nên  giống sen quý ở đây. Sen Tây Hồ  quý vì bông lớn khi nở to như nhì bàn tay thành lập, có trăm cánh (còn được  gọi là Bách Diệp) xếp lớp bao bọc lấy nhụy, đài và  gạo, giữ cho sen  mùi thơm thuần khiết, ngát đượm.

Cho tới nay chưa sắm thấy sách nào ghi sen ở hồ Tây có trong khoảng bao giờ nhưng Đại Việt sử ký đã nói tới ly cung, biệt điện, tư thất của các vương hầu, công chúa, quan đại thần triều Lý bên cạnh những vạt sen thơm ngát ở  Hồ Tây. Sở dĩ ly cung, biệt điện xây dựng bên vạt sen vì nhà Lý được coi là triều đại quân chủ Phật Giáo và hoa sen là  biểu trưng nhiều mặt trong Đạo Phật.

Đến nhà Trần, Hồ Tây cũng là nơi nghỉ ngơi, giải trí  cho các đại quan. Đương nhiên tới nhà Lê thì phổ thông ly cung biệt điện đã đổ nát. Vua Lê Tương Dực (1509-1516), một ông vua nhiều người biết đến ăn chơi trong lịch sử phong kiến vietnam đã  cho sửa sang hành cung ở Dâm Đàm khiến cho chỗ nghỉ ngơi. 

Đại Việt sử ký chép, ông "vua lợn" này bày ra tuồng chơi "tiên nữ hái hoa sen". ngừng thi côngĐây là bắt cung nhân trút bỏ váy áo ở nai lưng giả làm cho tiên nữ chèo thuyền hái sen nở trong hồ để vua xem.

Sen đi tham gia ca dao vietnam như một tượng trưng xinh xắn, sạch sẽ, thanh tao:

Rủ nhau ra tắm hồ sen,
Nước trong bóng mát, hương chen cạnh bản thân.

Hay:

Hoa sen mọc bãi cát lầm,
Mặc dù lấm láp vẫn mầm hoa sen.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 15.

Nguồn: Buihang_97.

Còn với sen Tây Hồ, người trước tiên làm cho thơ được ghi chép lại chính là vua Lê Thánh Tông, ông có bài Hoa sen bằng chữ Hán và Hoa sen non bằng chữ Nôm. Hoa sen non không chỉ đẹp mà thấy tâm hồn lãng mạn bay bổng của một ông vua có tài và tâm:

Dìu dịu Lam Điền ngọc mới tương,
Hồ thanh, sắc ánh, mặt nhường gương.
Ngọc in làm đỏm tiền sơ đúc,
Chàm nhuộm nên màu, tán chửa giương.
Lạt biếc mới khai mày Thái mẫu,
Thắm hồng còn độc đáo má Vương Tường.
Khách thơ hứng nghĩ hiềm chưa đủ,
Mười trượng hoa thì mười trượng hương.

Trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và Dâu bể ngẫu lục của Nguyễn  Án cùng viết về  thú chơi của chúa Trịnh Sâm trong trung thu năm 1774: "Ngày hôm đó chúa ngự trên ly cung Thụy Liên (sen ngủ). Dưới là sen trên bờ là cây phù dung bận rộn đèn lồng. Nhạc công hoặc ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc hoặc ẩn bản thân mình dưới bóng cây, bến đá tấu nhạc".

Ở  Nghi Tàm có ngôi miếu ở ven các con phố liên quan tới sen hồ Tây là miếu Bà Cô. Tục truyền cô gái họ Đoàn này đi thuyền hái sen dâng lên phủ hành cung Thụy Liên của chúa Trịnh nhưng chẳng may thuyền bị đắm cô bị chết, dân Nghi Tàm cho là cô chết trẻ nên thiêng đã lập miếu thờ.

Sen trong bài  Thăm chùa Trấn Quốc của Phạm Quý Thích (1760-1825) là "Mười dặm hương sen theo gió thoảng" và "Giữa đám sen dày thuyền lướt mau". Thượng kinh ký sự của đại danh y Lê Hữu Trác kể chuyện ông chữa bệnh cho chúa Trịnh ở biệt  điện bên hồ Tây và sen đã cho ông xúc cảm đến mức bật ra thơ. 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 16.

Ở phổ thông địa phương, người ta chỉ dùng hạt, củ và tâm sen nhưng ở Thủ đô cây sen gần như không bỏ đi thứ gì. Dân vòng vo Hồ Tây hái  lá già bán cho các bà, các cô làng Vòng. Cốm đầu nia gói trong lá sen già thì không gì bằng vì nhì mùi quyện tham gia nhau tỏa mùi thơm thanh dịu trong tiết thu nhạt nắng. Dân làng Tương Mai  thường sử dụng lá sen non gói xôi lúa vì xôi không dính lá và mùi thơm lá sen kích thích vị giác của người ăn; nhụy dùng để ướp chè, nấu rượu  và hoa để thưởng thức rất tao nhã.

Chuyện cũ bên dòng sông Tô của Viên mai Nguyễn Công Chí chính là tộc phả dòng tộc Nguyễn Đình (làng Duyên Thái, huyện Thường Tín, Thủ đô) lập nghiệp ở xã Hàng Ngang từ thế kỷ XVII. Dòng tộc này không chỉ giầu có, nổi tiếng về  sự hiếu học ở đất Thăng Long mà còn nổi tiếng về khéo léo trong nghệ thuật ướp chè sen Tây Hồ. Đầu thế kỷ XX, dân các làng Tây Hồ, Nghi Tàm, Quảng Bá tậu hoa sen của các chủ thầu gánh tham gia  chợ Đồng Xuân và thị trấn xung quanh bán từng gánh lớn cho các mái ấm lấy nhụy ướp chè sen và cho người chơi hoa.

Để có được mỗi gói trà sen, người ra thường phải thu hoạch sen trong khoảng rất sớm để có được hương vị thơm ngon nhất. Nguồn: Petrotimes - VNE.

Trong cuốn Thủ đô nửa đầu thế kỷ XX, về sen hồ Tây, nhà tìm hiểu Nguyễn Văn Uẩn viết: "Trước đó ven hồ rộng rãi sen, về  mùa hạ sen mọc  kì dị, lá xanh rờn, hoa đỏ bao la gió đưa hơi mát đượm hương thơm phức". Đương nhiên sen mọc phổ biến nhất là ven bờ giáp các làng Nghi Tàm, Yên ổn Phụ, Nhật Tân, Quảng Bá nhất là làng Tây Hồ vì đáy hồ không sâu, thoải thoải và ở đây còn có phổ quát đầm và ao.

Đấy tiến thưởng đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý đây sen Tây Hồ 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 18.

Ngoài sen mọc tự nhiên, dân các làng này còn trồng thêm để làm vành đai ngăn sóng hạn chế nhạo lở  đất. Khi người Pháp chiếm Thủ đô và khu vực hồ Tây biến thành ngoại ô năm 1889 thì chính quyền  đấu thầu quyền khai thác sản vật ở hồ gồm: cá, sen. Trúng thầu là người Pháp, họ cho người Việt thầu lại.

Sau năm 1954, nhà nước huỷ bỏ thầu khai thác cá và sen hồ Tây. Năm 1958, Hà Nội xây cất Xí nghiệp nuôi và khai thác thủy sản hồ Tây. Để có phổ biến cá cung ứng cho cán bộ công nhân viên, xí nghiệp đã nhập giống cá mè hoa của China nuôi đại trà, sợ loại cá có vảy li ti bị chết do vướng gai ở thân sen nên đơn vị này đã cho phá bỏ phổ thông vạt sen quanh quéo hồ. Trong khoảng đó quy mô sen ở hồ bị thu hẹp. Bấy lâu, có phổ thông cặp luôn đi với nhau, bổ xung cho nhau để hoàn thành cái đẹp. Ca dao có câu:

Sen xa hồ, sen khô hồ cạn
Liễu xa đào liễu ngả đào nghiêng
Như Thúy kiều xa Kim Trọng nhân thức mấy niên tái hồi

Vì mất sen nên thời bao cấp tham gia mùa hè, sóng hồ đánh quá mạnh làm các nhà đất mép nước các làng Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ... bị  lở. Khu vườn chùa Thiên Niên bị sạt lớn còn trơ ngọn tháp. Những ngôi chiêu mộ ký mai táng xây gạch cũng trơ ra. Trong bài Sen Tây Hồ, thi sĩ Bằng Việt viết năm 1995 có câu:

Giả thử hồ sen cạn nốt
Làm gì cho thấy ngày xưa?...

Dự án qui hoạch và xây bờ kè quành hồ thực hiện trong khoảng cuối những năm 1990 đã đặt dấu chấm cho sen trong hồ. Hiện sen chỉ còn ở vài đầm như Đầm Trị hay gần Khu vực chợ nước Hồ Tây. Dù vậy, có thể thấy sinh khí của sen Tây Hồ vẫn vô cùng mãnh liệt, sen đang trở lại với đời sống hiện đại như chúng ta thấy bây giờ.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 19.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 20.

Như đã nói lúc trước, Hồ Tây là nơi sản sinh ra tâm thức của người Thăng Long nói riêng, người Việt cổ lỗ nói chung. Và tiềm thức đó biểu hiện rõ nhất ở các trị giá ý thức, tín ngưỡng. Bởi vậy, không quá quá bất ngờ khi bao quanh Hồ Tây người xưa đã xây dựng một quần thể đình chùa bát ngát và vô cùng phú quý.

Trong đó, trước nhất hãy nói về chùa Trấn Quốc. Chùa Trần Quốc ngày xưa là chùa Khai Nguyên, nằm ở ngoài đê sông Hồng. Sau đên thời Lê, do bị nước ngập, dân làng mới xin chuyển nó vào trong đê. Ở đó ngày xưa cũng là một ngôi chùa rất đẹp mà người dân làng Lặng Phụ thường cho đó là của làng mình. Bằng cớ là cho tới ngày bữa nay, vào thời điểm giỗ chạp hội làng Yên ổn Phụ, người địa phương vẫn ra chùa rước nước trong khoảng chùa về đình, rồi trong khoảng đình ra chùa. Nhưng ngày xưa có một con đường đê đắp nối từ làng ra chùa thì lễ rước sẽ tiện lợi hơn.

Còn về chùa Trấn Quốc, từng có một thời gian bị bỏ không, cũng có một thời điểm đó là nơi thường đưa các cung nga ra đó, gọi là hành cung của nhà Lê, của các Chúa, đêm đêm có nghe tiếng bầy đàn rất bi lụy. Chùa đó ngày xưa trấn giữ một phía của Thăng Long, nhưng không nằm trong Thăng Long Tứ Trấn. Đầu thế kỷ 20 kéo dài đến năm 1954, có cực kì phổ biến người chết trôi ở Hồ Tây. Cho nên nên chùa Trấn Quốc là nơi người ta đưa vong, đưa xương cốt của người đã đánh mất tới. chậm tiến độ là đặc điểm gắn liền với Hồ Tây lớn nhất của chùa Trấn Quốc.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 21.

Chùa Trấn Quốc. Nguồn: Vietravel.

Thời đó, xung quanh những câu chuyện thương tâm trên là các lời phao đồn đáng sợ mang tính mê tín dị đoan. Quành Hồ Tây tới hiện giờ vẫn còn tất cả người bịa chuyện ra những chuyện như vậy. Ngay như năm rồi năm kia, một tờ báo nào đó đưa là dưới đáy Hồ Tây là lăng chiêu tập xương. Ngày xưa cũng có một tha ma, một vài nghĩa trang làng. Nghĩa trang của làng Lặng Phụ, nghĩa địa của làng Quảng Bá dưới Hồ Tây khi nước hồ dâng lên đã nhấn chìm nghĩa trang, nhưng các mái nhà đã kịp bốc hài cốt lên, chẳng hề ngập ngay trong một thời gian ngắn. Có phổ quát người bịa đặt ra những điều rất bi thảm cười, Chẳng hạn như thuỷ quái rồi hồn ma đủ thứ.

Sau chùa Trấn Quốc, còn có vô khối các sự tích huyền bí can hệ đến những đình, chùa khác như đền Quán Thánh, chùa Kim Liên, chùa Tảo Sách, chùa Hoàng Ân, chùa Vạn Niên… Nhưng đặc sắc nhất có nhẽ sẽ là câu chuyện về chùa Bà Đanh – một trong những sự tích công chúng thường nhầm lẫn phổ quát nhất.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 22.

Chùa bà Đanh ngày xưa hiện ra vào khoảng thế kỷ 15 khi vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, sau thắng lợi ông đã bắt ra phổ thông tù binh người Chăm đưa ra họ ra Thăng Long và lập ra một khu riêng cho họ cho họ sinh sống đặt tên là Viện Châu Lâm. Còn người Chăm vừa có Hồi giáo, vừa có đạo Phật nên mới cho xây một ngôi chùa để cho họ cúng bái. Nhưng rồi ngôi chùa đó cứ vắng dần, là vì sao? Đó là bởi theo thời gian, trong khoảng thế kỷ 15, rộng rãi người Chăm thích hợp huyết với người Việt, lấy cung phi lấy chồng người Việt, nên Viện Châu  Lâm thưa dần. Rồi đa dạng người muốn trở về quê nên các triều vua cũng ưng thuận nên càng ngày chùa càng vắng dần. Người Việt thì không tham gia đó, chùa chỉ có người Chăm vì thế ngôi chùa trở nên đìu hiu. Mặt khác, tên của bà vãi trong chùa ấy gọi là bà Đanh nên người ta mới có câu "Vắng như chùa bà Đanh"

Chùa bà Đanh của người Chăm trước kia ở khu vực trường Chu Văn An bây giờ (bên trái). Chùa bà Đanh ở Hà Nam (bên phải). Nguồn: Anninhthudo-Baodulich.

Ở Kim Bảng, Hà Nam cũng có một ngôi chùa tên là Bà Đanh nhưng chẳng hề là nơi nguồn cội của câu thành ngữ kia. Thực tiễn, ngôi chùa này nằm ở chân núi thì bao giờ cũng vắng. Hơn nưa, ngay cả trong khoảng chân núi đi ra làng gần nhất cũng  khá xa. Chùa này vắng người tương hỗ chứ không phải vắng người đi lễ. Tương truyền, có một người thanh nữ họ Đinh đã bỏ tiền ra xây chùa nhưng ngày xưa thì chẳng có khách hàng nào giàu tới mức đó, xây chùa thì chỉ có vua, quan lại, chỉ có tiền của nhà nước thôi, nhất là thời Lý. Mà Đinh người ta gọi là Đanh nên mới gọi là chùa bà. Ngọn nguồn câu chuyện có nguyên do như thế nên chùa bà Đanh là ở chỗ trường Chu Văn An hiện giờ mới là nơi duyên do của câu thành ngữ. 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 24.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 25.

Dù là ở thời kỳ nào, Hồ Tây với lượng nước vĩ đại của bản thân mình cũng mang đến sinh cơ cho dân cư xung quanh và thậm chí cả những khu vực lân cận. Thuở xưa, người ta có thể thuận tiện kiếm sống nhờ tham gia nghề cá, nhờ tham gia thủy sinh của hồ hay nhờ vào chính hệ sinh thái phong lưu nơi đây. Còn đối với những ngôi làng gần đó, như làng giấy Im Thái, làng dệt Bái Ân, làng rượu Thụy Chương, làng chuỗi tơ Nghi Tàm… nguồn nước từ Hồ Tây là thứ không thể thiếu.

Trong giai đoạn sông Thiên Phù và sông Tô lịch còn chưa bị lấp, tham gia mùa mưa nước sông Hồng tham gia Hồ Tây đã mang theo phần đông tôm cá. Tham gia hồ gặp vấn đề kiện thuận lợi, chúng sinh sôi nảy nở, sản xuất mạnh khỏe và hoàn toàn là cội nguồn tự nhiên. Vì thế các làng vòng quanh hồ như Yên ổn Phụ, Nghi Tàm, Xuân Tảo, Võng Thị hiện ra nghề tiến công cá. Xa xưa như bài Tụng phú Tây Hồ của Nguyễn Hữu Lượng cũng đã có biên chép về việc này:

"Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng 
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước cong vắt".

Lúc đó, tôm cá, thủy sinh rất phong lưu vì các nguồn cá trong khoảng phía thượng lưu sông Hồng đổ về có đủ các loại, có cá gáy bản thân đỏ, các chép mình trắng rồi cá trắm đen… nhưng để nói về đặc sản rất nổi tiếng của Hồ Tây, đó phải là cá gáy đen, chúng đen bóng như nhung và bắt lên thì da lấp lánh như the vậy. Rồi cũng chẳng thể không nhắc đến tôm hồng hay cà cuống, sâm cầm, những đặc sản nổi tiếng ở Hồ Tây trong rộng rãi thế kỷ. Cho đến những năm 60 70 của thế kỷ XX, ở Hồ Tây còn số đông cà cuống, nhưng bây chừ tuyệt nhiên không thấy đâu nữa.

Liên tục rộng rãi thế kỷ, các triều đại quân chủ cho đại chúng vòng quanh hồ được hòa bình tiến công cá coi như huê lợi của làng nhưng sau này thì mọi chuyện lại khác. Sông Thiên Phù bặt tăm rồi sông Tô Lịch cũng bị lấp dần, nguồn nước đem theo phù sa và thủy sinh mỡ màu trong khoảng sông Hồng tham gia không còn, Hồ Tây chỉ còn có thể mong đợi tham gia nhân tố "nhân tạo".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 26.

Tranh vẽ một làng cổ lỗ xung quanh Hồ Tây. Nguồn: Sungroup.

Sau khi Pháp xâm chiếm Thủ đô thì mọi chuyện có đa dạng đổi mới. Năm 1889, chính quyền đô thị khởi đầu đấu thầu việc khai thác Hồ Tây chứ không còn được tự do kiếm lợi trong khoảng nơi đây nữa. Bạn nào trả cao hơn sẽ là người có quyền vừa được đánh cá, vừa được khai thác sen… Nói tóm lại là được khiến cho mọi thứ trong thời điểm trúng thầu của mình và thủy sinh của Hồ Tây hiện nay hoàn toàn dựa vào tham gia những người trúng thầu. Đương nhiên, chế độ này không làm ưng ý những dân cư sinh sống ven hồ. Nguồn huê lợi trong khoảng hàng trăm năm nay không còn mà buộc phải "tậu vé" để có thể tiếp diễn công việc của chính mình nên hồ hết người đã bỏ làng, bỏ nghề.

Hình như, cũng về chuyện thủy sinh, còn một thứ "đặc sản" được sản xuất bởi sự nắm bắt nhầm. chậm tiến độ là ốc Hồ Tây. Phổ biến người truyền tai nhau cho rằng, đã lên đến Hồ Tây là phải ăn bánh tôm rồi bún ốc, thế mới là cách thức thưởng thức đúng điệu song số đông đều đã nhầm. Nói về bún ốc, ở Thủ đô chỉ có hai làng nổi tiếng với truyền thống của bản thân. Một là làng Pháp Vân với bún ốc nóng, còn lại là làng Khương Thượng với món bún ốc nguội. Còn về nguyên do mọi người hay nhầm lẫn, phải nắm bắt được rằng: "Nói bún ốc Hồ Tây là người ta nói bừa, nói ẩu vì con ốc Hồ Tây thì mãi đến năm 1960 của thế kỷ trước, công ty cá Hồ Tây mới xuống Ninh Bình, Hà Nam mang về thả cho cá trắm ăn thì mới hình thành con ốc Hồ Tây, chứ lúc trước cũng có nhưng rất ít chứ chẳng thể thành đặc sản như cá gáy đen hay cà cuống".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 27.

Hình như sen, Hồ Tây còn được biết đến với một loài hoa khác cũng được xem như một tượng trưng của Thủ đô, đó là những cây đào đỏ thắm sắc xuân. Theo truyền thuyết, ngày 5 04 tuần Giêng, sau khi đại phá quân Thanh, vua Quang đãng Trung từng sai quân nhân chạy ngựa trong khoảng Thăng Long mang một cành đào Nhật Tân về Phú Xuân tặng hoàng hậu yêu là công chúa Ngọc Hân.

Đối với gốc gác xưa của làng đào Nhật Tân phải nói là đã rất lâu đời rồi. Khi ấy, có An Nam độ hộ phủ đóng ở vùng nay và quân nhân nhà Tuyến đường sang đây không nhân thức bao giờ mới đi về bởi họ phải đi theo niên hạn, không có cái gì tính thời gian nên mới trồng hoa đào. Hoa đào cũng ko phải mang từ Trung Quốc sang mà là họ lên dãy Hoàng Liên Sơn lấy hoa đào rừng mang về trồng. Cứ mỗi mùa hoa đào nở thì họ biết đấy là một năm. Và qua mấy mùa đào thì họ nhân thức chính mình đã ở bao lâu, trong khoảng đó mới sinh ra làng đào Nhật Tân. Nhưng thời đó cũng chỉ là trồng chơi chứ chưa thành làng chuyên trồng đào. Mãi tới cuối thế kỷ 19, Nhật Tân mới chính thức trở thành ngôi làng chuyên trồng đào.

Trong khoảng lâu, hoa đào đã biến thành một nét đẹp trong văn hóa người Hà Nội. Nguồn: Caoanhtuan - Maikhanh.

Thực tại, đào bích ko phải giống đào của Việt Nam. Nó khởi hành từ một tích rất ly kỳ. Chuyện kể rằng, rất lâu trước đó, có một vị khách phương xa, mang tới đền Quán Thánh tặng cành đào, thì nhà sư trụ trì thấy cành đào bích đẹp quá nên mới trồng ở đó. Sau này mới mang lên nhờ ông Nam Nguyên ở làng Nhật Tân ươm hộ. Bản thân còn lên mình khảo xem Nam Nguyên là ông nào mà không bạn nào nhân thức hết cả. Cho nên, mới suy ra đào bích là giống trong khoảng Trung Quốc sang vì cây đào với người TQuốc rất cần thiết". 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 29.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 30.

Năm 1801, chúa Nguyễn Ánh đem thủy quân tiến công kinh đô Phú Xuân, vua Tây Sơn là Nguyễn Quang Toản phải bỏ chạy ra Thăng Long. Ở đây Nguyễn Quang quẻ Toản sai đắp số đông Phương Trạch tại hồ Tây để làm lễ tế trời đất, sai Nguyễn Huy Lượng là Chương lĩnh hầu, giữ chức quan Phụng nghị bộ Lễ, soạn một bài  phú, đọc trong lễ tế. Và bài  Tụng phú Tây Hồ  được Nguyễn Quang Toản rất ý hợp tâm đầu nên  ban thưởng cho Lượng nhì  quan tiền đồng.

Tụng phú Tây Hồ  có câu ngắn, câu dài, lại độc vận (vần hồ) khiến người đọc yêu thích, rù rì đọc từng chữ, từng câu. Dư vang của nó quấn quýt mãi không rời. Những từ láy lần đầu phát ra từ bài văn chẳng bao giờ lặp lại  đã mô tả mọi khía cạnh của hồ Tây, từ lịch sử, cảnh đẹp đến các truyền thuyết cổ xưa, sản vật... Bài phú được dân Thăng Long truyền khẩu và sợ quên nên khách hàng nào bạn nào cũng chép bài thơ này khiến cho giá giấy và giá mực tăng vọt.

Bài phú khởi đầu như thế này:

Lạ thay cảnh Tây hồ!
Lạ thay cảnh Tây hồ!
Trộm nhớ thuở đất chia chín cõi,
Nghe rằng đây đá mọc một gò 
Trước Bạch Hồ vào ở đó khiến hang, Long vương trổ nên vùng đại trạch, 
Sau Kim Ngưu  do vào đây hóa vực, Cao vương đào chặn mạch hoàng đô 
Tiếng nghe gọi Dâm Đàm, Lãng Bạc,
Cảnh ngầm in tinh chử, băng hồ 
Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo,
Hình lượn lượn uốn vòng trăng bạc, tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò…

Hay như:

Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in vùng tĩnh phạn
Hàng cũ rích thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên kiếm được sẵn thú Nghi, Vu 
Dấu Bố Cái rêu in nền phủ 
Cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa 
Trông mơ mòng nhường nhịn đỉnh Thứu  nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích chích,
Nghe phảng phất ngỡ động Đào mai nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o
Lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngất xỉu ,
Ghềnh Nhật Chiêu sóng giật ì ồ,
Rập rềnh cuối bãi Đuôi nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm,
Thanh lảnh đầu hồ Cổ lỗ ngựa tháp cao tăng còn hé cửa tò vò.
Chày Lặng Thái nện trong sương chểnh choảng 
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước ngoằn ngoèo…

Năm 1802 triều Tây Sơn sụp đổ,  Nguyễn Huy Lượng bị bắt  khi đội quân nhà Tây Sơn rút khỏi Bắc thành. Trung thần Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích bị giải đến Văn Miếu sỉ nhục. Nhậm bị tiến công trọng thương về tới nhà  thì chết. Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Văn Thành định giết mổ Lượng nhưng có người khuyên không nên giữ lại sử dụng vì Lượng có tài văn học. Nghe lời nhắn nhủ,  Nguyễn Văn Thành không làm thịt mà cho Lượng khiến cho  tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Nhân Nguyễn Ánh lên ngôi vua, Nguyễn Văn Thành công ty lễ mừng ở Bắc thành đã sai Nguyễn Huy Lượng khiến bài văn tế các tướng sỹ nhà Nguyễn trận vong. Bài văn tế do Lượng biên soạn rất lâm ly, ca ngợi công huân của  tướng  sỹ chúa  Nguyễn đã hủy hoại nhà Tây Sơn thế nào. Khi đọc khách hàng nào cũng ca ngợi bài văn tế tuyệt tác. Các nhà Nho đương thời dù phục tài thơ Lượng nhưng chê bảo Lượng ko phải là người tiết tháo, nhà Nho trượng phu thì "Uy vũ bất năng tắt thở".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 31.

Toàn cảnh Tây Hồ lúc hoàng hôn. Nguồn: Daidoanket.

Khi đọc Tụng phú Tây Hồ, Phạm Thái vốn phù Lê chống Tây Sơn,  nể sợ văn học của Lượng song ghét Lượng từng phù Lê nay xu thời phù Tây Sơn đã họa lại và lấy tên là Tụng chiến Tây Hồ với cùng số câu, cùng vần. Về cơ chế Tụng chiến Tây Hồ  đối chọi từng câu từng chữ với Tụng phú Tây Hồ, về nội dung thì  bác bỏ bỏ, có khi thóa mạ…

Cho đến ngày nay, Tụng phú Tây Hồ  vẫn nguyên vẹn trị giá nghệ thuật. Nhưng thêm tham gia đó nó còn có giá trị lịch sử. Bởi khi đọc bài phú có thể hình dung  Thăng Long qua các gia đọan và hồ Tây thế nào. Chẳng hạn đọc câu Lò Thạch Khối khói tuôn nghi chết giấc ta biết Thạch Khối xưa có lò nung vôi và các lò  vôi nằm sát đê Lặng Phụ (đoạn đầu tuyến phố Thanh Niên hiện  nay) nhưng do cát bồi và sông Hồng đoạn này đã đổi dòng.      

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 32.

Phải khẳng định lại một lần nữa, Hồ Tây có tầm vóc cực kỳ trọng yếu xuyên suốt các quá trình lịch sử của Thăng Long, Hà Nội. Nó là nơi sản xuất hiện, lưu giữ lại và tiếp tục tạo ra các giá trị vật thể và phi vật thể của thủ đô.

Thực tiễn, thời Pháp thuộc, ngay trong các công trình quy hoạch lại Hà Nội, người Pháp đã xác định chọn Hồ Tây là trọng tâm của Hà Nội sau này. Thậm chí bản quy hoạch năm 1943 đã được Toàn quyền Đông Dương phê duyệt y nhưng đáng nuối tiếc, sự có mặt của quân Nhật đã khiến toàn thể chiến lược chẳng thể khai triển. Sau này, trong quy hoạch Hà Nội năm 1992, được chính phủ phê thông qua, người ta đã xác định sẽ xây đắp Hồ Tây thành khu ngao du tầm cỡ nhưng thực tế thì cũng chưa khiến gì cả. Các công trình tự phát mọc lên như nấm, một số làng trong quy hoạch được giữ lại như Yên Thái, Võng Thị thì không giữ được, công trình xây lồng bồng, đất bán hết làm nó không còn vóc dáng một ngôi làng cổ lỗ nữa và số đông những mục định khai thác trong quy hoạch bị phá vỡ vạc và cũng không còn đất để mà chấp hành.

Chả hạn như ngay hiện nay Hồ Tây cần một công viên tiêu khiển phong cách, xứng tầm thủ đô chứ chẳng hề là một trạm xe buyt nước bao năm không thay đổi. Trước đây khi vực đó toàn là ruộng nhưng sau này đến năm 1995, tức là bí quyết đây 24 năm, lập ra một công ty của thành ủy và tiếp tục xây đắp một những nơi công cộng dưới nước, tất nhiên, cho đến bây chừ vẫn chỉ thế thôi. Thực tiễn, hiện nay nhà thờ nước sống chính bằng bán hàng ăn và khiến nhà cho thuê xung quanh. Nhưng nơi đó lại thiếu những hoạt động diễn ra vòng quanh năm, mùa hè còn bơi được, trượt nước được nhưng mùa đông thì phải làm gì?

Để khai thác được Hồ Tây đúng với trị giá của nó mang đến, trước hết điều bây chừ cần có là một bảo tồn về Hồ Tây. ngừng thi côngĐây sẽ là một nơi người ta tới để biết về lịch sử Hồ Tây, qua đó nhân thức 1 phần lịch sử Thủ đô, 1 phần lịch sử Việt Nam và nhân thức được cả về tiềm thức của người Việt. Trong đó có phải sen Hồ Tây, phải có thủy sinh, phải có đình, chùa… phải ghi lại tất cả những trị giá xưa.  

Đời sống Hồ Tây dù êm ả nhưng luôn để lại dấu ấn đậm nét. Ảnh tổng phù hợp.

Nhưng đó chỉ là một phần, đối với việc khai thác các trị giá của Hồ Tây, xong khoát phải có các hoạt động, trò chơi trên mặt nước. Mặt nước Hồ Tây bát ngát như thế, nếu như không sử dụng triệt để thì thực thụ là phí hoài. Giá trị mà Hồ Tây phát triển nếu như như đi đúng hướng có thể tới trong khoảng cả khách vãn lai trong và ngoài nước, miễn là có đủ "dịch vụ du lịch" cung cấp cho họ. Thêm tham gia đó, hoàn toàn có thể thành lập ra các dịch vụ tham quan đường thủy, đi bao quanh hồ. Hay nói cụ thể hơn là các tour ngao du văn hóa – tôn giáo tại các điểm di tích tôn giáo. Tuy nhiên, đối với ý tưởng này, cam đoan sẽ có những khó khăn tới trong khoảng chi tiêu rất lớn để đầu tư cơ sở vật chất vật chất xây dựng bến bãi đậu thuyền hay đến trong khoảng chính việc giải quyết các nguồn thu tới từ tour ngao du bởi Hồ Tây quá lớn, nó trải rộng trên khu vực nhiều thị xã. Nhưng quả tình, nếu đủ cố gắng, giả dụ toàn bộ phân khúc trong phường hội đều bình thường tay thì việc phục dựng trị giá Hồ Tây hay tận dụng khai thác hết tiềm năng của nó là hoàn toàn khả thi.

* Ngoài nội dung chính là các biên chép của phóng viên trong cuộc gặp với nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, chúng tôi cũng dùng một số tài liệu, hình ảnh trong nhà cửa đang viết của anh để dựng lên một bức ảnh thu bé về Hồ Tây phục vụ quý độc giả.

Nhà văn, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến

È Hải Trung

Đỗ Linh

29/08/2019

Tham khảo thêm: mua nha

Bình luận

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN DỰ ÁN
Đăng ký
ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC
chung cu lux riverview chung cu opal boulevard chung cu lux star chung cu opal city